RISS 학술연구정보서비스

검색

인기 검색어

    다국어 입력

    http://chineseinput.net/에서 pinyin(병음)방식으로 중국어를 변환할 수 있습니다.

    변환된 중국어를 복사하여 사용하시면 됩니다.

    예시)
    • 中文 을 입력하시려면 zhongwen을 입력하시고 space를누르시면됩니다.
    • 北京 을 입력하시려면 beijing을 입력하시고 space를 누르시면 됩니다.
    닫기

    베트남 국제결혼가정 이주여성의 문화적응 스트레스에 관한 연구 : 사회 자본을 중심으로 = A Study on Acculturative Stress among The Vietnamese Marriage Migrant Women in Korea : focused on Social capital

    한글로보기

    https://www.riss.kr/link?id=T11182889

    • 0

      상세조회
    • 0

      다운로드
    서지정보 열기
    • 내보내기
    • 내책장담기
    • 공유하기
      • URL 복사
    • 오류접수
    인용문이 복사되었습니다.

    부가정보

    다국어 초록 (Multilingual Abstract) kakao i 다국어 번역

    Gần đây, số cô dâu từ Việt Nam đang ngày càng tăng. Xong để thích nghi với nền văn hóa, nếp sống mới, cần một quá trình thay đổi về suy nghĩ và hành động và những thay đổi thiết yếu này đang mang lại cho họ những khó khăn, khổ tâm quá mức. Khi những nỗi khổ tâm như thế này không được giải quyết kịp thời và hợp lý, sẽ rất có nguy cơ mang lại sự suy nhược tinh thần và những suy nhược tinh thần này kết cục đem lại sự tan vỡ gia đình. Mục đích của nghiên cứu này là phân tích những đặc tính của phụ nữ Việt Nam và đặc điểm của họ trong cuộc sống hôn nhân gia đình, những ảnh hưởng của văn hóa xã hội mà họ tới sinh sống tới những nỗi khổ tâm và từ đó giúp cho ích cho họ những cô dâu Việt Nam trong quá trình thích nghi với môi trường sống mới và cung cấp tài liệu cho việc nghiên cứu, cải thiện các chính sách.
    Đối tượng tham gia phỏng vấn là 111 người tìm đến 15 trung tâm giúp đỡ người nước ngoài và thành viên của 4 hội người Việt Nam. Phương pháp thống kê, phân tích của nghiên cứu này là t-test, ANOVA, sử dụng kỹ thuật thống kê SPSS/WIN 12.0, phân tích quan hệ tương quan đơn thuần(Pearson's Correaltion), phân tích quy hồi đa dạng(Multiple regression).
    Biến số lớn nhất của nghiên cứu này là những nỗi khổ tâm trong quá trình thích nghi văn hóa và những yếu tố bao gồm trong đó là những sự khác biệt văn hóa, căn bệnh nhớ nhà và những sự hãi, âu lo, những bất ngờ, bỡ ngỡ, bàng hoàng trước sự khác biệt văn hóa, lo âu cho con cái và những yếu tố tinh thần gây nên do sự khác biệt văn hóa khác. Những biến số đơn, nhỏ gồm những yếu tố về đặc tính cá nhân của những đối tượng phỏng vấn và những đặc thù của xã hội, đặc điểm của cuộc sống gia đình và nguồn vốn xã hội. Những đặc điểm về cá nhân như tuổi tác, tôn giáo, thời gian sinh sống, năng lực tiếng Hàn, những đặc thù của xã hội gồm có những yếu tố như sự chênh lệch tuổi tác với chồng, những suy nghĩ, mức độ hài lòng về chồng, mức thu nhập gia đình. Nguồn vốn xã hội bao gồm quan hệ gia đình bản thân, gia đình chồng, những mối quan hệ bạn bè cá nhân, những mối quan hệ với những hàng xóm người Hàn và người Việt.
    Có thể tóm tắt nội dung của nghiên cứu này như sau : Khi năng lực tiếng Hàn đạt trình độ tốt, khoảng cách tuổi tác với chồng nằm trong khoảng 15 tuổi và có nguồn thu nhập khá; khi hàng tháng có thể gọi điện thoại về gia đình ở Việt Nam, gặp gỡ, tụ họp với gia đình nhà chồng 1 lần trong vòng tối đa 2~3 tháng, thông tin liên lạc với bạn bè tại Hàn Quốc thì mức độ khó khăn tinh thần hay những khổ tâm có thể thấy là thấp. Thêm vào đó, mức độ hài lòng về chồng, mức độ quan hệ không chính thức với người Việt và độ tin cậy càng cao thì những khổ tâm nảy sinh trong quá trình thích nghi văn hóa càng thấp. Ngược lại, mức độ khó khăn lên cao khi có những mối quan hệ không chính thức với người Hàn Quốc và nhất là khi tham gia vào tập thể tôn giáo.
    Để biết được mức độ ảnh hưởng của những đặc điểm cá nhân và những đặc điểm của điều kiên sinh hoạt tới những khó khăn tinh thần của cô dâu Việt Nam trong quá trình thích nghi văn hóa, nghiên cứu được đặt trọng tâm vào điều tra, phân tích quy hồi các biến số nhỏ tìm hiểu về những đặc tính cá nhân và những đặc tính của sinh hoạt gia đình và nó cho thấy kết quả là khi số lần được gọi điện về gia đình trong 1 tháng ít nhất là 1 lần trở lên, có nhiều mối quan hệ qua lại với càng nhiều hàng xóm người Việt, độ chênh lệch tuổi tác giữa bản thân và chồng không quá 15 tuổi và mức độ hài lòng về chồng cao thì khó khăn trong thích nghi đời sống văn hóa tinh thần thấp; ngược lại, khi có nhiều mối quan hệ qua lại với hàng xóm người Hàn Quốc và có tham gia tổ chức Thiên Chúa Giáo thì những khó khăn trong thích nghi văn hóa càng cao.
    Thông qua kết quả nghiên cứu trên, có thể rút ra những đề nghị về vấn đề khó khăn tinh thần của phụ nữ Việt Nam trong quá trình thích nghi với văn hóa cuộc sống gia đình với người ngoại quốc.
    Thứ nhất, cần có những trợ cấp cho họ để tạo điều kiện cho họ được duy trì mối giao lưu, liên lạc với gia đình của bản thân ở Việt Nam và tạo lập cho họ mối quan hệ với gia đình nhà chồng.
    Thứ hai, không chỉ những chương trình dành cho cá nhân những cô dâu nước ngoài mà còn cần có những chương trình tăng cường quan hệ vợ chồng, cải thiện quan hệ con dâu với bố mẹ chồng và những chương trình cải thiện quan hệ với con cái, hay có thể nói là những chương trình cho đơn vị gia đình. Đặc biệt là với những cặp vợ chồng có sự chênh lệch tuổi tác quá lớn, cần có những chương trình chuyên môn duy trì, cải thiện sự bình đẳng mối quan hệ và tăng sự cảm thông, thông hiểu lẫn nhau.
    Thứ ba, mạng quan hệ phường xã nơi sinh sống cũng cần được hình thành để những người phụ nữ nước ngoài có thể cùng tham gia vào những chương trình cho cả tập thể địa phương sẵn có chứ không chỉ chương trình theo đơn vị gia đình. Nói cách khác là cần giúp đỡ họ thiết lập mối quan hệ với nhiều hàng xóm người Việt bằng cách hỗ trợ cho những hội người Việt vốn đã được hình thành. Thêm vào đó cũng cần nghe họ giới thiệu về nền văn hóa của họ và giúp họ xóa bỏ những suy nghĩ tiêu cực về xã hội hiện tại. Chính phủ và chính quyền sở tại cũng cần cải tiến những chương trình cho những cô dâu Việt Nam và cũng cần phân phát, truyền bá cho họ những hướng dẫn về xã hội địa phương để bản thân họ có thể tự cải thiện nhận thức về cộng đồng xung quanh.
    번역하기

    Gần đây, số cô dâu từ Việt Nam đang ngày càng tăng. Xong để thích nghi với nền văn hóa...

    Gần đây, số cô dâu từ Việt Nam đang ngày càng tăng. Xong để thích nghi với nền văn hóa, nếp sống mới, cần một quá trình thay đổi về suy nghĩ và hành động và những thay đổi thiết yếu này đang mang lại cho họ những khó khăn, khổ tâm quá mức. Khi những nỗi khổ tâm như thế này không được giải quyết kịp thời và hợp lý, sẽ rất có nguy cơ mang lại sự suy nhược tinh thần và những suy nhược tinh thần này kết cục đem lại sự tan vỡ gia đình. Mục đích của nghiên cứu này là phân tích những đặc tính của phụ nữ Việt Nam và đặc điểm của họ trong cuộc sống hôn nhân gia đình, những ảnh hưởng của văn hóa xã hội mà họ tới sinh sống tới những nỗi khổ tâm và từ đó giúp cho ích cho họ những cô dâu Việt Nam trong quá trình thích nghi với môi trường sống mới và cung cấp tài liệu cho việc nghiên cứu, cải thiện các chính sách.
    Đối tượng tham gia phỏng vấn là 111 người tìm đến 15 trung tâm giúp đỡ người nước ngoài và thành viên của 4 hội người Việt Nam. Phương pháp thống kê, phân tích của nghiên cứu này là t-test, ANOVA, sử dụng kỹ thuật thống kê SPSS/WIN 12.0, phân tích quan hệ tương quan đơn thuần(Pearson's Correaltion), phân tích quy hồi đa dạng(Multiple regression).
    Biến số lớn nhất của nghiên cứu này là những nỗi khổ tâm trong quá trình thích nghi văn hóa và những yếu tố bao gồm trong đó là những sự khác biệt văn hóa, căn bệnh nhớ nhà và những sự hãi, âu lo, những bất ngờ, bỡ ngỡ, bàng hoàng trước sự khác biệt văn hóa, lo âu cho con cái và những yếu tố tinh thần gây nên do sự khác biệt văn hóa khác. Những biến số đơn, nhỏ gồm những yếu tố về đặc tính cá nhân của những đối tượng phỏng vấn và những đặc thù của xã hội, đặc điểm của cuộc sống gia đình và nguồn vốn xã hội. Những đặc điểm về cá nhân như tuổi tác, tôn giáo, thời gian sinh sống, năng lực tiếng Hàn, những đặc thù của xã hội gồm có những yếu tố như sự chênh lệch tuổi tác với chồng, những suy nghĩ, mức độ hài lòng về chồng, mức thu nhập gia đình. Nguồn vốn xã hội bao gồm quan hệ gia đình bản thân, gia đình chồng, những mối quan hệ bạn bè cá nhân, những mối quan hệ với những hàng xóm người Hàn và người Việt.
    Có thể tóm tắt nội dung của nghiên cứu này như sau : Khi năng lực tiếng Hàn đạt trình độ tốt, khoảng cách tuổi tác với chồng nằm trong khoảng 15 tuổi và có nguồn thu nhập khá; khi hàng tháng có thể gọi điện thoại về gia đình ở Việt Nam, gặp gỡ, tụ họp với gia đình nhà chồng 1 lần trong vòng tối đa 2~3 tháng, thông tin liên lạc với bạn bè tại Hàn Quốc thì mức độ khó khăn tinh thần hay những khổ tâm có thể thấy là thấp. Thêm vào đó, mức độ hài lòng về chồng, mức độ quan hệ không chính thức với người Việt và độ tin cậy càng cao thì những khổ tâm nảy sinh trong quá trình thích nghi văn hóa càng thấp. Ngược lại, mức độ khó khăn lên cao khi có những mối quan hệ không chính thức với người Hàn Quốc và nhất là khi tham gia vào tập thể tôn giáo.
    Để biết được mức độ ảnh hưởng của những đặc điểm cá nhân và những đặc điểm của điều kiên sinh hoạt tới những khó khăn tinh thần của cô dâu Việt Nam trong quá trình thích nghi văn hóa, nghiên cứu được đặt trọng tâm vào điều tra, phân tích quy hồi các biến số nhỏ tìm hiểu về những đặc tính cá nhân và những đặc tính của sinh hoạt gia đình và nó cho thấy kết quả là khi số lần được gọi điện về gia đình trong 1 tháng ít nhất là 1 lần trở lên, có nhiều mối quan hệ qua lại với càng nhiều hàng xóm người Việt, độ chênh lệch tuổi tác giữa bản thân và chồng không quá 15 tuổi và mức độ hài lòng về chồng cao thì khó khăn trong thích nghi đời sống văn hóa tinh thần thấp; ngược lại, khi có nhiều mối quan hệ qua lại với hàng xóm người Hàn Quốc và có tham gia tổ chức Thiên Chúa Giáo thì những khó khăn trong thích nghi văn hóa càng cao.
    Thông qua kết quả nghiên cứu trên, có thể rút ra những đề nghị về vấn đề khó khăn tinh thần của phụ nữ Việt Nam trong quá trình thích nghi với văn hóa cuộc sống gia đình với người ngoại quốc.
    Thứ nhất, cần có những trợ cấp cho họ để tạo điều kiện cho họ được duy trì mối giao lưu, liên lạc với gia đình của bản thân ở Việt Nam và tạo lập cho họ mối quan hệ với gia đình nhà chồng.
    Thứ hai, không chỉ những chương trình dành cho cá nhân những cô dâu nước ngoài mà còn cần có những chương trình tăng cường quan hệ vợ chồng, cải thiện quan hệ con dâu với bố mẹ chồng và những chương trình cải thiện quan hệ với con cái, hay có thể nói là những chương trình cho đơn vị gia đình. Đặc biệt là với những cặp vợ chồng có sự chênh lệch tuổi tác quá lớn, cần có những chương trình chuyên môn duy trì, cải thiện sự bình đẳng mối quan hệ và tăng sự cảm thông, thông hiểu lẫn nhau.
    Thứ ba, mạng quan hệ phường xã nơi sinh sống cũng cần được hình thành để những người phụ nữ nước ngoài có thể cùng tham gia vào những chương trình cho cả tập thể địa phương sẵn có chứ không chỉ chương trình theo đơn vị gia đình. Nói cách khác là cần giúp đỡ họ thiết lập mối quan hệ với nhiều hàng xóm người Việt bằng cách hỗ trợ cho những hội người Việt vốn đã được hình thành. Thêm vào đó cũng cần nghe họ giới thiệu về nền văn hóa của họ và giúp họ xóa bỏ những suy nghĩ tiêu cực về xã hội hiện tại. Chính phủ và chính quyền sở tại cũng cần cải tiến những chương trình cho những cô dâu Việt Nam và cũng cần phân phát, truyền bá cho họ những hướng dẫn về xã hội địa phương để bản thân họ có thể tự cải thiện nhận thức về cộng đồng xung quanh.

    더보기

    다국어 초록 (Multilingual Abstract) kakao i 다국어 번역

    In recent days, the number of Vietnamese migrant women who have married Korean men is on the rise. International marriage is concomitant with cultural change and requires a new way of thinking and behavior. Such changes are likely to put heavy pressure on marriage migrant women, and they are apt to face problems in terms of mental health if the stress isn't eliminated. Their stress and ailing mental health may lead to additional severe problems like family disorganization. The purpose of this study was to examine how the acculturative stress of the Vietnamese marriage migrant women in Korea was affected by their own personal characteristics, their married lives and social capital in an effort to pave the way for relevant policy setting and providing a clinical intervention for their adjustment.
    The subjects in this study were 111 the Vietnamese marriage migrant women who used 15 migrant centers across the nation and were members of four self-supporting Vietnamese parties. SPSS/WIN 12.0 program was used to make a statistical analysis of the collected data, and t-test, ANOVA, Pearson's correlation analysis and multiple regression analysis were utilized.
    An acculturative stress was selected as a dependent variable, and the selected subdimensions of it were a perceived sense of discrimination, homesickness, perceived hatred, fear, stress due to change/culture shock, guilt, worry about children and cultural alienation. The selected independent variables were personal characteristics, features of married life and social capital. The personal characteristics included age, religion, term of stay and Korean proficiency, and the features of married life involved age gap with husband, satisfaction with husband and family income. The category of social capital consisted of a private network among their maiden home, the family of husbands and friends, a local network with Korean and Vietnamese neighbors, participation and trust.
    The major findings of the study were as follows:
    The Vietnamese marriage migrant women suffered from significantly less acculturative stress when they spoke Korean better, when their age gap with husbands was less than 15 years, when their family income was larger, when they talked with their family in Vietnam over the phone once or more a month, when they spoke to parents-in-law and met them once a more every two or three months, and when they had one or more friend(s) who dwelled in Korea. And their acculturative stress significantly got lower when they found their husband more satisfactory, when they had stronger informal personal ties with other Vietnamese neighbors and when they put more confidence in people around them. In contrast, they faced more acculturative stress when they had stronger informal personal ties with Koreans neighbors and when they were religious.
    In order to check into the influence of the social capital, personal characteristics and features of married life on their acculturative stress, regression analysis was implemented by selecting the three factors as independent variables, and it's found that they suffered from less acculturative stress when they talked to their parents once or more a month over the phone, when they had stronger ties with Vietnamese neighbors, and when their age gap with husbands was less than 15 years, and when they were more contented with husbands. On the other hand, they were under heavier acculturative stress when they had stronger ties with Korean neighbors and when they were Catholic.
    Given the findings of the study, there are some suggestions about the acculturative stress of the Vietnamese marriage migrant women:
    First, they should be financially aided to get in touch with their families in Vietnam, and they also should be assisted to beef up the relationship with their maiden home by creating a sustainable relationship among their family in Vietnam, husbands and family-in-law.
    Second, different sorts of programs are required, which separately cater to female immigrants themselves, their conjugal relations, relationship with family-in-law and relations with children. Specifically, more intensive programs should be prepared to improve the mutual understanding and conjugal relations of them and their much older husbands.
    Third, in addition to programs geared toward intermarried female immigrants and their families, existing local programs should be utilized to build a network between them and local community. And they should be helped to strengthen their relations with Vietnamese neighbors and to vitalize their self-supporting parties. Local people should be informed about their unique culture, and social prejudice against international marriage and people from low-income countries should be removed. And the national and local governments should try to develop effective programs and to change the way people look at immigrant women.
    번역하기

    In recent days, the number of Vietnamese migrant women who have married Korean men is on the rise. International marriage is concomitant with cultural change and requires a new way of thinking and behavior. Such changes are likely to put heavy pressur...

    In recent days, the number of Vietnamese migrant women who have married Korean men is on the rise. International marriage is concomitant with cultural change and requires a new way of thinking and behavior. Such changes are likely to put heavy pressure on marriage migrant women, and they are apt to face problems in terms of mental health if the stress isn't eliminated. Their stress and ailing mental health may lead to additional severe problems like family disorganization. The purpose of this study was to examine how the acculturative stress of the Vietnamese marriage migrant women in Korea was affected by their own personal characteristics, their married lives and social capital in an effort to pave the way for relevant policy setting and providing a clinical intervention for their adjustment.
    The subjects in this study were 111 the Vietnamese marriage migrant women who used 15 migrant centers across the nation and were members of four self-supporting Vietnamese parties. SPSS/WIN 12.0 program was used to make a statistical analysis of the collected data, and t-test, ANOVA, Pearson's correlation analysis and multiple regression analysis were utilized.
    An acculturative stress was selected as a dependent variable, and the selected subdimensions of it were a perceived sense of discrimination, homesickness, perceived hatred, fear, stress due to change/culture shock, guilt, worry about children and cultural alienation. The selected independent variables were personal characteristics, features of married life and social capital. The personal characteristics included age, religion, term of stay and Korean proficiency, and the features of married life involved age gap with husband, satisfaction with husband and family income. The category of social capital consisted of a private network among their maiden home, the family of husbands and friends, a local network with Korean and Vietnamese neighbors, participation and trust.
    The major findings of the study were as follows:
    The Vietnamese marriage migrant women suffered from significantly less acculturative stress when they spoke Korean better, when their age gap with husbands was less than 15 years, when their family income was larger, when they talked with their family in Vietnam over the phone once or more a month, when they spoke to parents-in-law and met them once a more every two or three months, and when they had one or more friend(s) who dwelled in Korea. And their acculturative stress significantly got lower when they found their husband more satisfactory, when they had stronger informal personal ties with other Vietnamese neighbors and when they put more confidence in people around them. In contrast, they faced more acculturative stress when they had stronger informal personal ties with Koreans neighbors and when they were religious.
    In order to check into the influence of the social capital, personal characteristics and features of married life on their acculturative stress, regression analysis was implemented by selecting the three factors as independent variables, and it's found that they suffered from less acculturative stress when they talked to their parents once or more a month over the phone, when they had stronger ties with Vietnamese neighbors, and when their age gap with husbands was less than 15 years, and when they were more contented with husbands. On the other hand, they were under heavier acculturative stress when they had stronger ties with Korean neighbors and when they were Catholic.
    Given the findings of the study, there are some suggestions about the acculturative stress of the Vietnamese marriage migrant women:
    First, they should be financially aided to get in touch with their families in Vietnam, and they also should be assisted to beef up the relationship with their maiden home by creating a sustainable relationship among their family in Vietnam, husbands and family-in-law.
    Second, different sorts of programs are required, which separately cater to female immigrants themselves, their conjugal relations, relationship with family-in-law and relations with children. Specifically, more intensive programs should be prepared to improve the mutual understanding and conjugal relations of them and their much older husbands.
    Third, in addition to programs geared toward intermarried female immigrants and their families, existing local programs should be utilized to build a network between them and local community. And they should be helped to strengthen their relations with Vietnamese neighbors and to vitalize their self-supporting parties. Local people should be informed about their unique culture, and social prejudice against international marriage and people from low-income countries should be removed. And the national and local governments should try to develop effective programs and to change the way people look at immigrant women.

    더보기

    국문 초록 (Abstract) kakao i 다국어 번역

    최근 국내에서 베트남 국제결혼가정 이주여성이 늘고 있다. 국제결혼으로 인해 한 문화에서 다른 문화로의 변화는 새로운 행동과 사고를 요구하는 과정이며, 이러한 변화과정은 이주여성에게 과중한 부담을 주는 스트레스로 나타날 수 있다. 이런 스트레스가 적절히 해결되지 않을 때에 정신건강상의 문제를 갖게 될 위험이 매우 높으며 국제결혼가정 이주여성의 스트레스와 정신건강의 문제는 결국 가족해체 등의 문제로 나타날 수 있다. 본 연구의 목적은 베트남 국제결혼가정 이주여성의 개인적 특성과 결혼생활 특성, 정착 사회의 사회 자본이 문화적응 스트레스에 미치는 영향을 분석하여 국제결혼가정 이주여성의 적응에 도움이 될 수 있는 임상적 개입과 정책 개발에 자료를 제공하는 데 있다.
    연구 대상은 전국 15개의 이주민 센터 이용자와 4곳의 베트남 자조 모임 구성원 111명이다. 본 연구는 SPSS/WIN 12.0를 이용하여 기술통계, t-test, ANOVA, 단순상관관계분석(Pearson's Correaltion), 다중회귀분석(Multiple regression) 등의 방법을 사용하여 통계 분석하였다.
    이 연구에서 종속변수는 문화적응 스트레스이며 하위요인으로는 지각된 차별감, 향수병, 두려움, 지각된 미워함, 문화충격, 죄의식, 자녀염려, 문화적 소외가 있다. 또한 독립변수는 연구 대상자의 개인적 특성, 결혼생활 특성, 사회 자본으로 설정하였다. 개인적 특성은 나이, 종교, 체류기간, 한국어능력 정도로, 결혼생활 특성은 남편과의 나이차, 남편에 대한 만족도, 가족소득으로 구성하였다. 사회 자본의 차원은 친정식구, 시댁식구, 친구로 구성된 사적네트워크, 한국인 이웃과 베트남인 이웃으로 구성된 지역사회네트워크, 참여, 신뢰로 범주화하여 조사하였다.
    본 연구의 결과를 요약하면 다음과 같다. 한국어 능력이 높고, 남편과의 나이차가 15년 미만일 때, 가족 소득이 높을수록, 그리고 월 1회 이상 베트남 친정과 통화하고 시댁과 2~3달에 한번 이상 만나고 통화하며 한국에 거주하는 베트남인 친구가 있을 때 문화적응 스트레스는 통계적으로 유의미하게 낮아졌다. 또 남편에 대한 만족도가 높을수록, 베트남인 이웃과 비공식적인 유대가 높을수록, 신뢰가 높을수록 문화적응 스트레스는 낮아진다. 반면에 한국인 이웃과의 비공식적인 유대관계가 높고, 종교를 가졌을 때 문화적응 스트레스는 높아졌다.
    베트남 국제결혼가정 이주여성의 문화적응 스트레스에 대해 사회 자본과 개인적 특성, 결혼 생활 특성이 얼마나 영향을 주는지 알아보기 위해 사회 자본과 개인적 특성, 결혼생활 특성을 독립변수로 하여 회귀분석을 실시하였다. 그 결과 친정통화 횟수가 1달에 한 번 이상이고, 베트남인 이웃들과 유대관계가 많으며, 남편과의 나이차가 15세 미만이고 남편에 대한 만족도가 좋을수록 낮은 문화적응 스트레스를 경험하고 반면에 한국인 이웃과의 유대 관계가 높고 카톨릭교 종교를 가졌을 때 문화적응 스트레스는 높아지는 것으로 나타났다.
    본 연구의 결과를 토대로 본 연구자는 베트남 국제결혼가정 이주여성의 문화적응 스트레스에 대한 다음과 같은 제언을 하고자 한다.
    첫째, 베트남 이주여성이 친정과 네트워크를 지속하기 위한 경제적 지원과 더불어 남편·시댁식구와 이주여성의 베트남 친정 식구와 관계를 형성하고 지속할 수 있도록 지원하여 이주여성의 친정 네트워크가 지지받을 수 있도록 해야 할 것이다.
    둘째, 이주여성 개인에게 초점을 둔 프로그램뿐만 아니라 부부관계 강화 프로그램, 시부모와의 관계 강화를 위한 프로그램, 자녀관계를 위한 프로그램 등 가족단위의 프로그램의 필요가 있다. 특히 스트레스에 취약하게 노출되어 있는 부부 연령차가 큰 국제결혼가정의 평등한 부부관계와 서로에 대한 이해 증진을 위한 대한 전문적인 프로그램 개발과 지원이 필요할 것이다.
    셋째, 국제결혼가정 이주여성 혹은 가족만을 위한 프로그램이 아니라 기존의 지역사회 프로그램에 이주여성들을 적극적으로 포함하여 지역사회 내의 네트워크를 형성할 수 있도록 해야 하며, 베트남 국제결혼가정 이주여성이 지역사회 안에서 베트남인 이웃과 관계망을 형성할 수 있는 서비스 지원과 이미 형성되어 있는 자조모임의 활성화를 위한 지원이 필요할 것이다. 또한 지역사회 차원에서 베트남 이주여성의 문화를 소개하고 국제결혼과 저소득국가에서 온 이들에 대한 사회적 편견 해소를 위해 노력을 기울여야 한다. 정부와 지자체에서는 이를 위한 프로그램을 개발하고 시행하며 지역사회 내에 인식개선을 위한 지침서 등을 배포해야 할 것이다.
    번역하기

    최근 국내에서 베트남 국제결혼가정 이주여성이 늘고 있다. 국제결혼으로 인해 한 문화에서 다른 문화로의 변화는 새로운 행동과 사고를 요구하는 과정이며, 이러한 변화과정은 이주여성에...

    최근 국내에서 베트남 국제결혼가정 이주여성이 늘고 있다. 국제결혼으로 인해 한 문화에서 다른 문화로의 변화는 새로운 행동과 사고를 요구하는 과정이며, 이러한 변화과정은 이주여성에게 과중한 부담을 주는 스트레스로 나타날 수 있다. 이런 스트레스가 적절히 해결되지 않을 때에 정신건강상의 문제를 갖게 될 위험이 매우 높으며 국제결혼가정 이주여성의 스트레스와 정신건강의 문제는 결국 가족해체 등의 문제로 나타날 수 있다. 본 연구의 목적은 베트남 국제결혼가정 이주여성의 개인적 특성과 결혼생활 특성, 정착 사회의 사회 자본이 문화적응 스트레스에 미치는 영향을 분석하여 국제결혼가정 이주여성의 적응에 도움이 될 수 있는 임상적 개입과 정책 개발에 자료를 제공하는 데 있다.
    연구 대상은 전국 15개의 이주민 센터 이용자와 4곳의 베트남 자조 모임 구성원 111명이다. 본 연구는 SPSS/WIN 12.0를 이용하여 기술통계, t-test, ANOVA, 단순상관관계분석(Pearson's Correaltion), 다중회귀분석(Multiple regression) 등의 방법을 사용하여 통계 분석하였다.
    이 연구에서 종속변수는 문화적응 스트레스이며 하위요인으로는 지각된 차별감, 향수병, 두려움, 지각된 미워함, 문화충격, 죄의식, 자녀염려, 문화적 소외가 있다. 또한 독립변수는 연구 대상자의 개인적 특성, 결혼생활 특성, 사회 자본으로 설정하였다. 개인적 특성은 나이, 종교, 체류기간, 한국어능력 정도로, 결혼생활 특성은 남편과의 나이차, 남편에 대한 만족도, 가족소득으로 구성하였다. 사회 자본의 차원은 친정식구, 시댁식구, 친구로 구성된 사적네트워크, 한국인 이웃과 베트남인 이웃으로 구성된 지역사회네트워크, 참여, 신뢰로 범주화하여 조사하였다.
    본 연구의 결과를 요약하면 다음과 같다. 한국어 능력이 높고, 남편과의 나이차가 15년 미만일 때, 가족 소득이 높을수록, 그리고 월 1회 이상 베트남 친정과 통화하고 시댁과 2~3달에 한번 이상 만나고 통화하며 한국에 거주하는 베트남인 친구가 있을 때 문화적응 스트레스는 통계적으로 유의미하게 낮아졌다. 또 남편에 대한 만족도가 높을수록, 베트남인 이웃과 비공식적인 유대가 높을수록, 신뢰가 높을수록 문화적응 스트레스는 낮아진다. 반면에 한국인 이웃과의 비공식적인 유대관계가 높고, 종교를 가졌을 때 문화적응 스트레스는 높아졌다.
    베트남 국제결혼가정 이주여성의 문화적응 스트레스에 대해 사회 자본과 개인적 특성, 결혼 생활 특성이 얼마나 영향을 주는지 알아보기 위해 사회 자본과 개인적 특성, 결혼생활 특성을 독립변수로 하여 회귀분석을 실시하였다. 그 결과 친정통화 횟수가 1달에 한 번 이상이고, 베트남인 이웃들과 유대관계가 많으며, 남편과의 나이차가 15세 미만이고 남편에 대한 만족도가 좋을수록 낮은 문화적응 스트레스를 경험하고 반면에 한국인 이웃과의 유대 관계가 높고 카톨릭교 종교를 가졌을 때 문화적응 스트레스는 높아지는 것으로 나타났다.
    본 연구의 결과를 토대로 본 연구자는 베트남 국제결혼가정 이주여성의 문화적응 스트레스에 대한 다음과 같은 제언을 하고자 한다.
    첫째, 베트남 이주여성이 친정과 네트워크를 지속하기 위한 경제적 지원과 더불어 남편·시댁식구와 이주여성의 베트남 친정 식구와 관계를 형성하고 지속할 수 있도록 지원하여 이주여성의 친정 네트워크가 지지받을 수 있도록 해야 할 것이다.
    둘째, 이주여성 개인에게 초점을 둔 프로그램뿐만 아니라 부부관계 강화 프로그램, 시부모와의 관계 강화를 위한 프로그램, 자녀관계를 위한 프로그램 등 가족단위의 프로그램의 필요가 있다. 특히 스트레스에 취약하게 노출되어 있는 부부 연령차가 큰 국제결혼가정의 평등한 부부관계와 서로에 대한 이해 증진을 위한 대한 전문적인 프로그램 개발과 지원이 필요할 것이다.
    셋째, 국제결혼가정 이주여성 혹은 가족만을 위한 프로그램이 아니라 기존의 지역사회 프로그램에 이주여성들을 적극적으로 포함하여 지역사회 내의 네트워크를 형성할 수 있도록 해야 하며, 베트남 국제결혼가정 이주여성이 지역사회 안에서 베트남인 이웃과 관계망을 형성할 수 있는 서비스 지원과 이미 형성되어 있는 자조모임의 활성화를 위한 지원이 필요할 것이다. 또한 지역사회 차원에서 베트남 이주여성의 문화를 소개하고 국제결혼과 저소득국가에서 온 이들에 대한 사회적 편견 해소를 위해 노력을 기울여야 한다. 정부와 지자체에서는 이를 위한 프로그램을 개발하고 시행하며 지역사회 내에 인식개선을 위한 지침서 등을 배포해야 할 것이다.

    더보기

    목차 (Table of Contents)

    • 제 1 장 서론 = 1
    • 제 1절 문제제기 = 1
    • 제 2절 연구목적과 과제 = 3
    • 1. 연구 목적 = 3
    • 2. 연구 과제 = 3
    • 제 1 장 서론 = 1
    • 제 1절 문제제기 = 1
    • 제 2절 연구목적과 과제 = 3
    • 1. 연구 목적 = 3
    • 2. 연구 과제 = 3
    • 제3절 연구의 한계 = 4
    • 제 2 장 이론적 배경 = 5
    • 제 1절 베트남 국제결혼가정 이주여성 = 5
    • 1. 국제결혼가정 이주여성 = 5
    • 2. 베트남 국제결혼가정 이주여성 = 6
    • 제 2절 문화적응 스트레스 = 9
    • 1.문화적응 = 9
    • 2. 문화적응 스트레스 = 11
    • 3. 문화적응 스트레스의 하위요인 = 14
    • 제3절 사회 자본 = 15
    • 1. 사회 자본의 개념 = 15
    • 2. 사회 자본의 차원 = 16
    • 3. 사회 자본과 문화적응 스트레스 = 17
    • 제 3 장 연구방법 = 19
    • 제 1절 연구모형 = 19
    • 제 2절 연구가설 = 20
    • 제 3절 연구 대상 및 자료수집 방법 = 20
    • 제 4절 측정도구의 구성 = 21
    • 1. 사회 자본 = 21
    • 2. 문화적응 스트레스 = 22
    • 제 4 장 연구 결과 = 24
    • 제 1절 독립변수와 종속변수의 기술적 통계 결과 = 24
    • 1. 개인적 특성 = 24
    • 2. 결혼생활 특징 = 26
    • 3. 사회 자본 = 29
    • 4. 문화적응 스트레스 = 36
    • 제 2절 독립변수와 문화적응 스트레스 = 37
    • 1. 개인적 특성과 문화적응 스트레스 = 37
    • 2. 결혼생활 특징과 문화적응 스트레스 = 42
    • 2. 사회 자본과 문화적응 스트레스 = 44
    • 제 3절 문화적응 스트레스 요인의 영향 관계 = 52
    • 1. 문화적응 스트레스에 영향을 미치는 요인에 대한 회귀분석의 결과 = 52
    • 2. 문화적응 스트레스의 하위요인에 영향을 미치는 요인에 대한 회귀분석의 결과 = 56
    • 제 5 장 결론 및 제언 = 71
    • 제 1절 결론 = 71
    • 제 2절 제언 = 79
    • 참고문헌 = 81
    • ABSTRACT(English) = 86
    • ABSTRACT(Vietnamese) = 89
    • 부록(설문지) = 92
    • 감사의 글 = 101
    더보기

    분석정보

    View

    상세정보조회

    0

    Usage

    원문다운로드

    0

    대출신청

    0

    복사신청

    0

    EDDS신청

    0

    동일 주제 내 활용도 TOP

    더보기

    주제

    연도별 연구동향

    연도별 활용동향

    연관논문

    연구자 네트워크맵

    공동연구자 (7)

    유사연구자 (20) 활용도상위20명

    이 자료와 함께 이용한 RISS 자료

    나만을 위한 추천자료

    해외이동버튼