Mục đích cơ bản của luận văn là tìm hiểu mối tương quan giữa môi trường gia đ&...

http://chineseinput.net/에서 pinyin(병음)방식으로 중국어를 변환할 수 있습니다.
변환된 중국어를 복사하여 사용하시면 됩니다.
https://www.riss.kr/link?id=T11784286
대전 : 충남대학교, 2009
학위논문(석사) -- 충남대학교 대학원 , 교육심리 및 교육과정전공 , 2009
2009
한국어
370.18 판사항(4)
370.15 판사항(21)
대전
v, 101 p. : 삽화 ; 26 cm
참고문헌: p. 51-60
0
상세조회0
다운로드다국어 초록 (Multilingual Abstract)
Mục đích cơ bản của luận văn là tìm hiểu mối tương quan giữa môi trường gia đ&...
Mục đích cơ bản của luận văn là tìm hiểu mối tương quan giữa môi trường gia đình và kỹ năng cơ bản của trẻ, trong hai môi trường vật chất và môi trường tâm lý thì môi trường nào có mối liên quan mật thiết đến kỹ năng cơ bản của trẻ hơn. Đây là một quá trình cần thiết để có thể sử dụng kết qủa nghiên cứu vào mục đích giáo dục phát triển kĩ năng cơ bản cho trẻ. Sau đây là những vấn đề cụ thể cần nghiên cứu trong đề tài.
1. Môi trường vật chất của gia đình( trình độ học vấn của bố mẹ, thu nhập của gia đình, điều kiện về những đồ dùng học tập có tác dụng tới trí tuệ của trẻ) và kỹ năng cơ bản của trẻ( kỹ năng đọc, viết, toán học) có mối tuơng quan như thế nào?
2. Môi trường tâm lý của gia đình(sự thúc đẩy về động cơ hành động của bố mẹ dành cho trẻ, sự thúc đẩy phát triển ngôn ngữ, những cử chỉ, biểu hiện tình cảm của bố mẹ dành cho trẻ) và kỹ năng cơ bản của trẻ( kỹ năng đọc, viết, làm toán) có mối tương quan như thế nào?
3. Trong hai môi trường vật chất và môi trường tâm lý của gia đình thì môi trường nào có mối liên quan mật thiết tới kỹ năng cơ bản của trẻ hơn?
Nghiệm thể của đề tài nghiên cứu bao gồm 198 trẻ từ 5 đến 6 tuổi(mẫu giáo lớn) hiện đang học tại trường mầm non ở Thanh Trì và nội thành Hà Nội, Việt Nam cùng 198 phụ huynh của các trẻ đó. Bộ công cụ để đánh giá kỹ năng cơ bản của trẻ được hoàn thiện dựa trên sự tham khảo từ bảng 'Trắc nghiệm đọc' của Viện phát triển giáo dục Hàn Quốc(1988), ‘Góp phần hoàn thiện bộ trắc nghiệm đo lường mức độ sẵn sàng đi học của trẻ 6 tuổi vào lớp 1' của Nguyễn Thị Hồng Nga(1996), 'Trắc nghiệm kỹ năng cơ bản của trẻ' của Nam Hee Kim và 'Trắc nghiệm kỹ năng toán học của trẻ' của Hye Jin Choi. Công cụ để đánh giá môi trường gia đình của trẻ được hoàn thiện phù hợp với môi trường gia đình và văn hóa của Việt Nam dựa trên sự tham khảo ở công cụ 'trắc nghiệm môi trường gia đình' của Viện khoa học Hàn Quốc(1973). Những vấn đề cần nghiên cứu trong đề tài được giải quyết thông qua phương pháp tính hệ số tương quan của Pearson và phương pháp hồi quy.
Kết qủa của đề tài nghiên cứu như sau.
1. Môi trường vật chất của gia đình và kỹ năng cơ bản của trẻ có mối tuơng quan đạt được độ tin cậy cao.
2. Môi trường tâm lý của gia đình và kỹ năng cơ bản của trẻ có mối tương quan đạt được độ tin cậy cao.
3. Môi trường vật chất có mối liên quan mật thiết hơn đến kỹ năng cơ bản của trẻ. Theo thứ tự sau: trình độ học vấn của mẹ, sự thúc đẩy phát triển ngôn ngữ, thu nhập của gia đình đã ảnh hưởng trực tiếp đến kỹ năng cơ bản của trẻ.
Theo đó, để phát triển kỹ năng cơ bản của trẻ thì cần phải cải thiện bầu không khí giáo dục trong gia đình, đồng thời thông qua mối tương tác giữa cha mẹ-con cái nhằm tạo hứng thú và môi trường thuận lợi để trẻ có thể rèn luyện các kỹ năng cơ bản có hiệu qủa tốt.
다국어 초록 (Multilingual Abstract)
The purpose of this study is to investigate the relationship between home environment and basic learning abilities of children and examine which environment, the status environment or the process environment, has a closer association with children's b...
The purpose of this study is to investigate the relationship between home environment and basic learning abilities of children and examine which environment, the status environment or the process environment, has a closer association with children's basic learning abilities. This study is necessary to give available materials to develop children's basic learning abilities. Accordingly, the issued subjects in this study are as follows:
1. How is the relationship between the status environment (such as parental education, income, and learning materials) and children's basic learning abilities (reading, writing, arithmetic)?
2. How is the relationship between the process environment (such as pressure for achievement motivation, pressure for language development, and sentiment support) and children's basic learning abilities?
3. Which environment, status environment or process environment, has a stronger association with children's basic learning abilities?
The subjects in this study are 198 young children with ages from 5 to 6 years old, who are learning at kindergarten locating in Thanh Tri and Hanoi, Viet Nam and 198 their parents. Studying tools used to investigate the basic learning abilities of children were corrected based on the Reading Test of Korea Educational Development Institute(1988); The Development of learning abilities for children at primary school of Nguyen Thi Hong Nga(1996); The Development of a Basic Learning Skills Test for Young Children of Nam Hee Kim; and The Development of Mathematical Ability Test of Young Children of Hye Jin Choi. Studying tools used to investigate the home environment of children were corrected suitably with the family environment and culture of Viet Nam, based on the Test of Family Environment of Korea Behavioral Sciences Institute(1973). The results of this study were analyzed by using correlation coefficient and multiple regression analysis.
The results of this study are summarized as follows:
1. The meaningful relationship of the status environment and children's basic learning abilities was found.
2. The meaningful relationship of the process environment and children's basic abilities was found.
3. The status environment has a close association with children's abilities. Parental education, pressure for language development and family income have direct effects on children's basic learning abilities.
Accordingly, to develop children's basic learning abilities, it is necessary to improve the education environment in families, and via the interaction between children and their parents to give the encouragement and good environment for children to practice effectively their basic learning abilities.
본 연구의 목적은 유아의 기본학습능력과 가정환경과의 관계를 살펴보고, 가정의 지위환경과 과정환경 변인 중 유아의 기본학습능력의 설명에 더 많이 기여하는 변인이 무엇인가를 알아보...
본 연구의 목적은 유아의 기본학습능력과 가정환경과의 관계를 살펴보고, 가정의 지위환경과 과정환경 변인 중 유아의 기본학습능력의 설명에 더 많이 기여하는 변인이 무엇인가를 알아보기 위한 것이다. 이와 같은 목적을 달성하기위해 본 연구에서 설정한 연구문제는 다음과 같다.
1. 가정의 지위환경 변인과 기본학습능력은 어떠한 관계가 있는가?
2. 가정의 과정환경 변인과 기본학습능력은 어떠한 관계가 있는가?
3. 가정의 지위환경과 과정환경 중 어느 것이 유아의 기본학습능력에 더 밀접히 관련되어 있는가?
본 연구의 대상은 베트남의 수도 하노이와 농촌 탄치에 소재한 유치원에 취학 중인 만 5세 유아 각 100명씩 총 200명과 그들의 부모 200명이다. 연구대상 유아들에게 기본학습능력 검사를, 그들의 부모를 대상으로 가정환경 설문지를 실시하였다. 회수된 유아 기본학습능력 검사지 중 무응답한 문항이 많은 2부의 검사지와 부모용 설문지 2부를 제외하여 본 연구에서 사용한 최종 분석 자료는 유아용 198부, 부모용 198부였다. 유아의 기본학습능력을 측정하기 위해 한국교육개발원(1988)이 제작한 ‘읽기검사’, Nguyễn Thị Hồng Nga(1996)의 ‘초등생의 학습능력 검사’, 김남희(2005)의 ‘유아 기초학습기능 검사’와 최혜진(2003)의 ‘유아 수학능력검사’를 참고하여 본 연구자가 제작한 ‘유아의 기본학습능력 검사’를 사용하였다. 한편 유아의 가정환경을 검사하기 위해서는 한국행동과학연구소(1973)에서 제작한 ‘가정환경검사’를 베트남의 실정에 알맞게 수정·보완·번역하여 사용하였다. 수집된 자료는 연구문제에 따라 상관분석 및 회귀분석하였다.
본 연구에서 얻은 주요 결과는 다음과 같다.
첫째, 유아의 기본학습능력과 가정의 지위환경 변인은 p<.01 유의수준에서 의의 있는 정적 상관이 나타났으며, 상관계수는 .269에서 .424까지 나타났다.
둘째, 유아의 기본학습능력과 가정의 과정환경 변인은 p<.01 유의수준에서 의의 있는 정적 상관이 나타났으며, 상관계수는 .211에서 .300까지 나타났다.
셋째, 기본학습능력에 대한 가정의 지위환경과 과정환경 변인의 상대적 영향력을 분석한 결과는 지위환경(=.428), 과정환경(=.148) 순으로 나타났다. 이들 2개 변인과 기본학습능력과의 중다상관계수는 .502로 유아의 기본학습능력의 25.2%를 설명하는 것으로 나타났다. 구체적으로 모학력(=.352), 언어발달을 위한 압력(=.179), 가정의 월수입(=.149) 순으로 나타났다. 이들 3개 변인과 기본학습능력과의 중다상관계수는 .517로 유아 기본학습능력의 26.7%를 설명하는 것으로 나타났다.
본 연구의 결과를 바탕으로 다음과 같은 결론을 내릴 수 있다.
첫째, 가정의 지위환경 변인과 유아의 기본학습능력 간에는 정적 상관이 있다.
둘째, 가정의 과정환경 변인과 유아의 기본학습능력 간에는 정적 상관이 있다.
셋째, 유아의 기본학습능력은 가정의 지위환경과 관련되어 있다. 즉 가정의 지위환경 변인 중 어머니의 학력수준, 가정의 과정환경 변인 중 언어발달을 위한 압력, 가정의 지위환경 중 가정의 월수입 순으로 유아의 기본학습능력에 영향을 미친다.
따라서, 유아의 기본학습능력을 증진시키기 위해서는 가정환경의 교육적 분위기 조성이 요구되며, 부모-자녀 간의 상호작용을 통해 유아가 흥미를 갖고 기본학습을 할 수 있는 가정환경을 마련해주어야 할 것이다.
목차 (Table of Contents)